Viết nghị luận văn học
Cách viết đoạn văn khoảng 200 chữ và bài văn khoảng 600 chữ phân tích, đánh giá tác phẩm văn học theo thang chấm mới; dàn ý, cách dẫn chứng, đoạn văn mẫu.
Phần Viết (6,0 điểm) gồm một đoạn văn khoảng 200 chữ (2,0 điểm) và một bài văn khoảng 600 chữ (4,0 điểm). Tùy cách ghép đề, nghị luận văn học có thể là câu 1 (đoạn văn phân tích chính ngữ liệu ở phần Đọc hiểu) hoặc câu 2 (bài văn phân tích, đánh giá một văn bản văn học in kèm trong đề). Văn bản luôn nằm ngoài sách giáo khoa, nên điều quyết định điểm là kĩ năng đọc và phân tích, không phải văn mẫu học thuộc.
Yêu cầu và thang chấm
Các đề trong ứng dụng chấm theo khung ba nhóm tiêu chí (nội dung kiến thức – kĩ năng – hình thức và ngôn ngữ); tiêu chí nội dung được chia nhỏ theo từng đề.
| Đoạn văn (2,0 điểm) | Điểm | Giám khảo cần thấy |
|---|---|---|
| Nội dung: xác định vấn đề | 0,25 | Câu mở đoạn nêu trúng đối tượng và yêu cầu của đề |
| Nội dung: triển khai vấn đề | 1,0 | Hai, ba ý phân tích có dẫn chứng, kết hợp nội dung với nghệ thuật, có đánh giá |
| Kĩ năng phân tích, lập luận | 0,5 | Dẫn chứng chính xác, phân tích tín hiệu nghệ thuật chứ không kể lại, các câu liên kết chặt |
| Hình thức và ngôn ngữ | 0,25 | Đúng một đoạn văn, dung lượng phù hợp (chấp nhận khoảng 100–300 chữ), đúng chính tả, ngữ pháp |
| Bài văn (4,0 điểm) | Điểm | Giám khảo cần thấy |
|---|---|---|
| Nội dung kiến thức | 2,5 | Xác định đúng vấn đề; các luận điểm về nội dung và nghệ thuật; đánh giá giá trị tác phẩm |
| Kĩ năng | 0,75 | Luận điểm rõ, lập luận chặt, dẫn chứng chính xác, chuyển đoạn mạch lạc |
| Hình thức và ngôn ngữ | 0,75 | Bố cục ba phần, dung lượng phù hợp (chấp nhận khoảng 400–800 chữ), đúng chính tả, ngữ pháp, diễn đạt có sáng tạo |
Các dạng đề thường gặp
- Phân tích, đánh giá một bài thơ, đoạn thơ: chủ đề, cảm xúc và nét đặc sắc nghệ thuật.
- Phân tích nhân vật, chi tiết, tình huống trong truyện; một cảnh kịch; một đoạn kí.
- Phân tích một hình ảnh, một khía cạnh nội dung hoặc nghệ thuật của văn bản.
- So sánh, đánh giá hai văn bản cùng đề tài hoặc hai nhân vật.
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ
- Câu mở đoạn (1–2 câu): tên, thể loại văn bản + vấn đề cần phân tích.
- Thân đoạn (6–8 câu): hai, ba ý; mỗi ý gồm nhận định → dẫn chứng → phân tích tín hiệu nghệ thuật → ý nghĩa.
- Câu kết đoạn (1–2 câu): đánh giá nghệ thuật, khái quát giá trị.
Viết bài văn khoảng 600 chữ
Dàn ý khung
- Mở bài (khoảng 60–80 chữ): giới thiệu văn bản (thể loại, đề tài) và nêu vấn đề nghị luận.
- Thân bài (khoảng 450 chữ):
- Khái quát: nhan đề, mạch nội dung, cảm hứng chủ đạo (2–3 câu).
- Luận điểm về nội dung: phân tích theo khổ, đoạn hoặc theo khía cạnh; ý nào cũng có dẫn chứng.
- Luận điểm về nghệ thuật: thể loại, hình ảnh, biện pháp tu từ, ngôn ngữ, giọng điệu, điểm nhìn… (có thể lồng vào từng ý nội dung).
- Đánh giá: giá trị, ý nghĩa của văn bản; nét riêng so với những văn bản cùng đề tài.
- Kết bài (khoảng 60 chữ): khẳng định giá trị, nêu tác động đến bản thân.
Cách mở bài, kết bài
- Mở bài trực tiếp: Bài thơ lục bát “Chị quét đường” khắc họa hình ảnh người lao công lặng lẽ giữa phố đêm, qua đó gửi gắm lời nhắc về lòng biết ơn với những điều tử tế không tên.
- Mở bài gián tiếp: Mỗi sớm, ta bước trên những con phố sạch tinh mà hiếm khi tự hỏi ai đã làm cho chúng sạch. Bài thơ lục bát “Chị quét đường” đã trả lời câu hỏi ấy bằng hình ảnh một người lao công lặng lẽ, và bằng một câu hỏi khiến người đọc phải tự nhìn lại mình.
- Kết bài: Khép lại bài thơ, hình ảnh “áo cam một đốm lửa hồng” vẫn sáng trong tâm trí người đọc. Đó là ánh sáng của những con người bình dị, và cũng là lời nhắc ta sống chậm lại để biết ơn.
Cách đưa dẫn chứng
- Dẫn trực tiếp: trích nguyên văn trong ngoặc kép, đúng từng chữ; thơ chỉ trích một, hai dòng hoặc một cụm từ, các dòng cách nhau bằng dấu “/”.
- Dẫn gián tiếp: tóm lược chi tiết bằng lời của mình (thường dùng với truyện, kịch).
- Công thức D – P – Đ: Dẫn (trích) → Phân tích (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp, nhịp điệu) → Đánh giá (ý nghĩa, cảm xúc, gắn với vấn đề).
Đề và đoạn văn mẫu
Đoạn văn mẫu
Bài thơ lục bát Chị quét đường khắc họa một hình tượng bình dị mà cao đẹp: người lao công lặng lẽ làm sạch phố phường khi mọi người còn say ngủ. Ngay hai dòng đầu, phép tương phản giữa “Phố còn say giấc mơ màng” và “Chổi tre chị quét lá vàng ven sông” đã làm nổi bật sự tảo tần của chị. Câu thơ “Gió mùa buốt ngón tay không” gợi cái lạnh thấm vào đôi tay trần, cho thấy nỗi vất vả âm thầm. Nhưng nhà thơ không để chị chìm trong màu xám lạnh: hình ảnh so sánh “Áo cam một đốm lửa hồng giữa sương” biến chiếc áo đồng phục thành một nguồn sáng nhỏ bé mà ấm áp, kiên cường. Sang khổ hai, giọng thơ chuyển sang suy ngẫm. Người qua đường “Ngỡ như phố tự biết thương lấy mình” – câu thơ nhẹ nhàng mà xót xa về sự vô tâm trước những đóng góp không tên. Câu hỏi tu từ khép bài như một lời tự vấn, đánh thức lòng biết ơn. Với thể lục bát mềm mại, ngôn ngữ giản dị mà giàu hình ảnh, bài thơ vừa ngợi ca người lao động thầm lặng, vừa nhắc ta biết nhìn thấy những bàn tay đang làm đẹp cuộc sống.
Vì sao đoạn văn đạt điểm cao?
- Câu mở đoạn nêu ngay vấn đề (hình tượng người chị) và nhận định chung (“bình dị mà cao đẹp”).
- Ba ý triển khai theo mạch bài thơ: sự tảo tần, vất vả → vẻ đẹp ấm áp → lời nhắc về lòng biết ơn; ý nào cũng có dẫn chứng chính xác.
- Mỗi dẫn chứng đi kèm tín hiệu nghệ thuật (tương phản, so sánh, câu hỏi tu từ) và ý nghĩa.
- Câu kết đánh giá nghệ thuật (thể lục bát, ngôn ngữ, hình ảnh) và khái quát giá trị; toàn đoạn khoảng 230 chữ, không xuống dòng.
Lỗi mất điểm
Mẹo làm bài
Tự kiểm tra nhanh
- Đoạn văn nghị luận văn học khoảng 200 chữ được chấm theo những nhóm tiêu chí nào?
Xem đáp án
Nội dung kiến thức 1,25 điểm (xác định vấn đề 0,25; triển khai 1,0), kĩ năng phân tích, lập luận 0,5 điểm, hình thức và ngôn ngữ 0,25 điểm.
- Công thức D – P – Đ khi đưa dẫn chứng là gì?
Xem đáp án
Dẫn (trích chính xác) → Phân tích (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp nghệ thuật) → Đánh giá (ý nghĩa, gắn với vấn đề nghị luận).
- Với đề “Phân tích khổ thơ thứ hai của bài Chị quét đường”, em sẽ triển khai những ý nào?
Xem đáp án
Sự vô tâm của người qua đường (“Ngỡ như phố tự biết thương lấy mình”); câu hỏi tu từ ở hai dòng cuối như lời tự vấn, thức tỉnh lòng biết ơn; hình ảnh “cúi gom bụi phố lặng thinh” gợi sự hi sinh thầm lặng; đánh giá giọng thơ chuyển từ tả sang suy ngẫm.
- Khi so sánh hai văn bản, vì sao không nên phân tích riêng từng bài rồi mới so sánh ở cuối?
Xem đáp án
Vì bài viết dễ thành hai bài phân tích rời nhau, phần so sánh mỏng; đặt hai văn bản trong cùng một tiêu chí (đề tài, hình ảnh, nghệ thuật) giúp sự giống, khác hiện rõ và lập luận chặt hơn.
Làm 10 câu luyện tập về viết nghị luận văn học và xem lời giải ngay sau mỗi câu.
Đề có câu hỏi về chủ đề này
Đọc hiểu bài thơ tám chữ về người cha sửa xe đầu ngõ; viết đoạn văn phân tích hình tượng người cha và bài văn nghị luận xã hội về lòng biết ơn.
Đọc hiểu truyện ngắn về cô học trò không đạt giải kì thi học sinh giỏi và một ngày làm muối cùng mẹ; viết đoạn văn phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật và bài văn nghị luận xã hội về bản lĩnh của người trẻ trước thất bại.
Đọc hiểu văn bản nghị luận về tự học khi trí tuệ nhân tạo trả lời thay con người; viết đoạn văn nghị luận xã hội về tinh thần hoài nghi đúng chỗ và bài văn phân tích, đánh giá một bài thơ tự do về làng quê đang vắng dần.